Nàng Tu Xà Đa (Sujata) là ai?

Hình ảnh có thể có: 2 người
NÀNG TU XÀ ĐA (Sujata)
Sau khi từ bỏ vương thành Ca Tỳ La Vệ, từ bỏ những gì cao sang, sung sướng nhất của một bậc Đông Cung Thái Tử, cho đến từ giã người hầu cận Xa Nặc trung thành và ngựa Kiền Trắc thân yêu, thái tử Tất Đạt Đa đã thực sự dấn thân vào chốn rừng thiêng u tịch của xứ Ấn trầm hùng, quyết tâm tầm đạo giải thoát cho muôn loài.
Ban đầu, Ngài học đạo với hai vị đạo sư nổi tiếng nhất đương thời là A La Lam (Alàra Kàlama) và Uất Đầu Lam Phất (Uddaka Ràmaputta). Sau một thời gian ngắn nỗ lực tu tập, Ngài đã chứng đắc được quả vị cao tột của hai vị Đạo sư này là Vô Sở Hữu Xứ Định và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định. Cảm nhận được những quả chứng này chưa phải là cứu cánh của giải thoát, chưa đoạn tận được tất cả phiền não kiết sử để siêu thoát luân hồi, Ngài đã từ giã hai vị Đạo sư này để tiếp tục lên đường đi tìm con đường đạt đến cứu cánh giải thoát.
Từ đây, Ngài thật sự bước vào con đường gian nan nhất. Trải qua sáu năm ròng rã, nhịn ăn bỏ ngủ, thực tập những lối tu khổ hạnh khắc nghiệt, cho đến lúc chỉ còn da bọc xương, không còn sức lực nữa, không bước đi được nữa, Ngài quỵ ngã bất tỉnh ngay trong lúc tu tập. Một người chăn cừu thấy vậy đã dùng sữa mớm vào miệng Ngài, Ngài mới dần dần tỉnh lại. Từ đây, Ngài chợt tỉnh nhận ra rằng: “không thể có một tinh thần minh mẫn trong một thân xác tiều tụy” và Ngài đã rút ra được bài học Trung Đạo của người tu tập là phải tránh xa hai trạng thái cực đoan: “Hưởng thụ trong đam mê dục lạc và ép xác khổ hạnh cực đoan.” Nhưng những giọt sữa dâng cúng từ người chăn cừu chỉ làm cho Ngài tươi tỉnh, khỏe mạnh đôi phần chứ chưa mang lại một tinh thần minh mẫn hay làm cho thân thể Ngài tráng kiện. Tinh thần minh mẫn và thân thể tráng kiện đã thật sự trở lại sau khi Ngài nhận sự cúng dường của nàng Tu Xà Đa.
Nàng Tu Xà Đa là một thiếu phụ sinh trưởng tại làng Senani, một miền sơn cước thuộc dãy Hy Mã Lạp Sơn, gần dãy rừng Ưu Lâu Tần Loa và dòng sông Ni Liên Thiền, nơi thái tử Tất Đạt Đa đang tu tập khổ hạnh. Chồng nàng là một điền chủ giàu nhất làng tên là Senani, nhờ giàu sang, danh vọng, và uy tín nên tên của chồng nàng được dùng để đặt tên làng. Nàng Tu Xà Đa rất đẹp người, có lòng bao dung tốt bụng, đặc biệt tánh tình của nàng “hiền lành như bồ câu và đức hạnh như thánh nữ”, vì thế nàng được chồng mình mến yêu và dân làng ngưỡng mộ. Cũng như bao người thiếu phụ khác, nàng luôn ước mong có một người con trai, do vậy ngày đêm nàng thường cầu nguyện dâng lễ và đi nhiễu xung quanh tượng đá Lanh Gam (tượng hình tròn và dài tượng trưng cho sự sinh sản) để cầu mong sanh được một hoàng nam. Sau những tháng ngày cầu nguyện, cuối cùng nàng cũng đã thụ thai và sinh được một cậu con trai như ý.
Để tạ ơn các vị thần nơi miền Tuyết Sơn huyền bí, nàng đã bỏ ra rất nhiều công sức để nấu bình Đề Hồ bằng những loại nếp thơm đặc biệt và những tinh chất từ sữa của những con bò khỏe mạnh nhất và sắm sữa một khay hoa quả thật đầy để dâng cúng. Nàng chọn một ngày đẹp trời, sai thị nữ Radha đội mâm hoa quả và mang bình Đề Hồ, còn nàng bồng đứa con cùng nhau vào rừng tạ ơn các vị thần linh thiêng cao cả đã ban cho nàng cuộc sống sung sướng, dân làng ấm no và đặc biệt là đứa con trai như lòng mong ước.
Thị nữ Radha đi trước tìm nơi thích hợp để làm lễ, nhìn thấy thái tử Tất Đạt Đa đang ngồi kiết già bất động dưới cội cây Bồ Đề hùng vĩ với dáng dấp uy nghiêm, từ bi lan tỏa, thị nữ Radha giật mình sửng sốt vừa mừng vừa sợ. Nàng vội vã trở lại báo tin cho nàng Tu Xà Đa rằng thần núi đang hiện ra uy nghiêm dưới cội cây Bồ Đề. Nàng Tu Xà Đa đã cùng với thị nữ vui mừng tiến đến dưới cội cây Bồ Đề cúi đầu sát đất, hai tay kính cẩn thành tâm dâng lên hoa quả và bình thực phẩm Đề Hồ để cúng dường: “Lạy Ngài cao cả đã ban phước cho chúng con, xin Ngài hãy nhận lễ mọn này tự tay làm lấy với tất cả lòng thành kính và biết ơn của con.”
Bấy giờ đã đúng ngọ, thái tử Tất Đạt Đa yên lặng nhận bình bát Đề Hồ và thọ trai, trong lúc nàng Tu Xà Đa và thị nữ Radha lòng tràn đầy hạnh phúc. Quả là thực phẩm thượng diệu, sau khi thọ trai xong, Ngài cảm giác như mọi sinh lực đã hồi phục, tinh thần đã minh mẫn trở lại: “Ngài nghe trong người tỉnh táo lạ thường, sức lực đã trở lại trong Ngài, nguồn sống chạy rần rần trong huyết quản, Ngài cảm nghe như những đêm quên ngủ, những ngày quên ăn chỉ là một giấc mơ mà bát Đề Hồ đã đuổi tan trong chốc lát. Trí não của Ngài trở nên sáng suốt như gương, nhẹ nhàng như có cánh, mạnh mẽ như Hy Mã Lạp Sơn.”
Vẫn không ít người con Phật trong chúng ta thắc mắc rằng: Tại sao nàng Tu Xà Đa cúng dường đức Thế Tôn đơn giản như thế, với tấm lòng bình dị và đơn sơ như thế lại được đức Phật dạy rằng đó là một trong những sự cúng dường có công đức lớn nhất và nhiều kỷ niệm nhất, trong khi có những đại lễ cúng dường của vua Tần Bà Ta La, vua A Xà Thế, trưởng giả Cấp Cô Độc v.v… lại không được đức Phật khẳng định tính quan trọng cao cả về hạnh cúng dường như nàng? Đọc qua Kinh Tạng hay tìm hiểu về các kinh sách, những lời dạy của chư Phật, chư Tổ… chúng ta cũng thầm hiểu rằng, sự cúng dường của nàng Tu Xà Đa hội đủ ba tính chất cao cả nhất: khế thời, khế cơ và khế lý.
Khế thời: Thời điểm mà nàng Tu Xà Đa cúng dường là vô cùng thích hợp và đúng lúc. Sau sáu năm khổ hạnh, thân thể của thái tử Tất Đạt Đa vô cùng tiều tụy, đây là lúc tốt nhất để cúng dường thực phẩm cho Ngài và cũng là thời điểm quan trọng mà Ngài sắp chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề. Đây là tính khế thời cao cả nhất.
Khế cơ: Đứng về mặt đối tượng căn cơ. Người nhận cúng ở đây là Bồ Tát Tất Đạt Đa, Ngài đang cần sự minh mẫn của tinh thần cũng như sự tráng kiện của thân thể để chiến đấu với ma vương phiền não, mang ánh sáng giác ngộ đến cho muôn loài, đây là một cơ hội quí báu, một phước điền tối thượng để nàng Tu Xà Đa gieo trồng công đức.
Khế lý: Xét về mặt lý lẽ thường tình của thế nhân thì đây chính là điều cha ông chúng ta thường nói “một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Xét về mặt đạo lý xuất thế thì đây là một phước duyên to lớn, một trợ duyên vĩ đại giúp Bồ Tát Tất Đạt Đa chứng đắc chân lý tối thượng, đạt đến giác ngộ hoàn toàn.
Một việc làm gì của người con Phật đối với mọi người nên hội đủ ba yếu tố: khế thời, khế cơ và khế lý. Nàng Tu Xà Đa với duyên lành tối thượng, vô tình cúng được bát Đề Hồ cho Bồ Tát Tất Đạt Đa đầy ý nghĩa, để rồi tên tuổi cũng như công đức cúng dường của nàng đã được muôn người ở ngàn năm sau còn nhắc mãi…
(St)
Hình ảnh có thể có: bầu trời và ngoài trờiHình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng, ngoài trời và thiên nhiênHình ảnh có thể có: 3 người, bao gồm Liên Uyên, mọi người đang đứng và trong nhà

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *