VĂN TẾ ĐỒNG BÀO TỬ NẠN VÌ COVID-19

Bài văn tế Thập loại chúng sinh của Nguyễn Du cảm nhận biết bao ai oán, khổ sầu về kiếp nhân sinh, phận bạc… của xã hội trước. Nay, ai đã từng chứng kiến cảnh bi thương khốc liệt tại các bệnh viện điều trị bệnh Covit, các hoàn cảnh tan thương do dịch bệnh hoành hành gây ra cũng sẽ cảm nhận phần nào tâm trạng của Nguyễn Du khi viết bài văn tế Thập loại chúng sinh. Adminh xin giới thiệu bài văn tế của thầy Thích Nguyên Hiền được đăng tải nhiều trên MXH:

VĂN TẾ ĐỒNG BÀO TỬ NẠN VÌ COVID-19

Than ôi! Quá đỗi sững sờ
Hỡi ôi! Vô cùng thảm thiết.
Đất Sài thành ba trăm năm phước địa
Miền Sài đô mấy thế kỷ nhân văn
Bỗng đâu một trận tan tành
Xót thương, kinh hãi, đoạn đành, trái ngang.
Rằm tháng Bảy lập đàn giải oán
Tiết Vu Lan thiết lễ kỳ siêu
Không gì hơn niệm thương yêu
Nguyện cầu dịch bệnh trừ tiêu nhẹ nhàng.
1/ Thương những người:
Mình mang blouse trắng
Theo nghiệp y khoa
Bao ngày thêu giấc mộng Hoa Đà
Mấy năm giữ nếp nhà Tuệ Tĩnh.
Khi gặp cơn dịch bệnh
Nguyện ở mãi tuyến đầu
Bịt kín thân mình ngày nắng đêm thâu
Xa mẹ xa cha gia đình phó mặc
Giữ vững lời thề Hy-po-crat
Mở lòng học hạnh Mạnh Thường Quân
Cuối cùng nhiễm bệnh gian truân
Tuyền đài thác xuống mịt mùng vì đâu.
Than ôi!
Những ước mơ đỗ đầu thành đạt
Thành lương y cứu thế độ nhân
Chừ ôm mối hận muôn phần
Bên kia thế giới ai cần nữa đâu!
2/ Lại thương kẻ:
Tuyến đầu tình nguyện
Phường huyện dân quân
Trực chốt ngày đêm đối phó kẻ bất tuân
Gian nắng sớm chiều ngăn ngừa người truyền nhiễm.
Giúp bao người tẩn liệm
Đưa lắm kẻ hoả thiêu
Kẻ ghét người thương giữ phận hẩm hiu
Dưới búa trên đe một điều nhiệm vụ
Rồi đêm ho sù sụ
Đến sáng thở thều thào
Lò thiêu đồng đội đưa vào
Bữa về tro cốt nghẹn ngào vợ con.
Than ôi!
Phận dân quân ba đồng ba cọc
Nghĩa công thần chín hiểm mười nguy
Suối vàng chừ lặng lẽ đi
Thân mình còn thẹn nghĩ gì người ta.
3/Lại thương kẻ:
Thương gia giàu có
Biệt thự hạng sang
Bả công danh phú quý mơ màng
Niềm kiêu hãnh vinh quang mộng mị.
Tài khoản dư tiền tỷ
Bất động sản còn đầy
Con vi trùng không có mắt ai hay
Bệnh covid chẳng biết ngày mình chịu.
Bình ô-xy chẳng thiếu
Vắc-xin Mỹ có thừa
Tiền tài mua được gì chưa
Chừ treo mạng sống mây đưa suối vàng.
Than ôi!
Sống dành dụm chẳng đem bố thí
Chết để cho người khác giữ xài
Chừ than khóc dưới tuyền đài
Biết ai thấu nỗi niềm này hay chăng!
4/ Lại thương kẻ:
Văn nhân nghệ sĩ
Tạp kỹ xướng ca
Ánh hào quang sân khấu lan xa
Người nổi tiếng nhà nhà ngưỡng mộ
Tài mệnh thường tương đố
Nghiệp dĩ lại đa mang
Giọng hát tiếng cười bỗng hết ngân vang
Khúc nhạc câu thơ bàng hoàng chợt tắt.
Khán giả chừ vắng ngắt
Lò hoả chỉ một mình
Tro tàn một nắm buồn tênh
Người đi vào cõi mông mênh ngậm ngùi.
Than ôi!
Phết son phấn mua vui cuộc mộng
Sau ánh đèn trống rỗng hình hài
Cuộc đời một thoáng thu phai
Hoá thân cát bụi còn ai nhớ mình.
5/ Lại thương kẻ:
Tiểu sinh ở phố
Gác trọ sinh viên
Mang gạo cơm cha mẹ trợ duyên
Đổi bằng cấp kiếm tiền lập nghiệp.
Công danh còn chưa kịp
Bè bạn mãnh tình không
Tiền học tiền phòng trả nợ chưa xong
Bữa đói bữa no chẳng đồng bỏ túi.
Rồi giấc mơ tàn lụi
Dính dịch bệnh nguy nan
Lò thiêu một giấc mơ màng
Mẹ cha chẳng biết, họ hàng ở đâu.
Than ôi!
Tưởng vùi mặt cắm đầu chí dốc
Cũng giảng đường đại học như ai
Người về nhắn với tương lai
Ba sinh hẹn một kiếp mai tương phùng.
6/ Lại thương kẻ:
Công nhân lao động
Cuộc sống thợ thuyền
Có cửa có nhà nghề nghiệp tinh chuyên
Đầy đủ vợ con bạc tiền dư dã.
Bỗng đâu trời nghiệt ngã
Lệnh phong toả cách ly
Cả vợ cả chồng họ đến đem đi
Con cái ngác ngơ chuyện gì sẽ tới?
Rồi tuần sau người gọi
Hai hủ cốt đem trao
Rưng rưng nghẹn ngấn lệ trào
Thực đây hay giấc chiêm bao hỡi trời.
Than ôi!
Người mất đã không lời trăn trối
Kẻ còn không kịp đội khăn tang
Không bình hương chẳng bát nhang
Trần gian cho đến suối vàng lạnh tanh.
7/ Lại thương kẻ:
Thị thành kiếm sống
Giấc mộng xa quê
Buôn gánh bán bưng nhiều ít nào chê
Bốc xếp xe ôm chẳng nề cực nhọc.
Mấy tháng trời chóc ngóc
Chẳng có một đồng lương
Chở vợ con ngàn cây số hồi hương
Vượt chốt chặn quyết tìm đường tháo chạy
Mơ màng trên xe máy
Bị tai nạn giữa đường
Khi nào một nắng hai sương
Giờ thân gió bụi dặm trường thảm thê.
Than ôi!
Kiếp tha phương não nề cầu thực
Xa mẹ cha làng xóm bạn bè
Ai trêu giấc mộng đêm hè
Tử sinh gió lọt qua khe bẻ bàng.
8/ Lại thương kẻ:
Lang thang đường phố
Vé số mưu sinh
Ngày rong rêu khắp hè phố thị thành
Đêm thấp thỏm dưới gầm cầu xó chợ
Có tiền ăn bát phở
Hết gặm đỡ bánh mì
Ngày qua ngày thân phận kể ra chi
Đêm từng đêm hão huyền gì đổi vận.
Rồi phát ho từng trận
Nằm chết ở bên đường
Phận hèn chẳng có ai thương
Lò thiêu đốt sạch dọn đường người đi.
Than ôi!
Một phận người ai bì chó kiểng
Kẻ thành nhân nở ví thú cưng
Kiếp sau nếu có tương phùng
Nguyện như gốc bá cội tùng một phương.
9/
Lại thương kẻ:
Buôn hương bán phấn
Cam phận bèo mây
Sống mua vui cho cánh râu mày
Đêm chuốc rượu rày đây mai đó.
Tương lai còn bỏ ngõ
Hiện tại sắc hương phai
Bám phố bám phường sương ướt hai vai
Khách sạn vũ trường lầu xanh quán đỏ
Nằm im trong gác trọ
Người đến quấn ni lông
Chất thùng đông lạnh như không
Lò thiêu một ngọn lửa hồng ra tro.
Than ôi!
Kiếp tầm gửi qua đò bến vắng
Phận cát đằng tay trắng khóc than
Nhân gian trót đã hoang đàng
Làm ma dưới chốn suối vàng sướng không?
10/ Lại thương kẻ:
Cửa Không Phật tử
Thích nữ ni cô
Vốn rõ thân Ngũ uẩn hư vô
Biết Tứ đại vô thường khó tránh.
Ngày tinh chuyên giới hạnh
Đêm thiền tập kệ kinh
Từ thiện cứu người sống chết xem khinh
Vô ngã vị tha giữ lòng thanh tịnh.
Rồi chẳng may vướng bệnh
Trút hơi thở ra đi
Chẳng tang lễ, chẳng linh di
Đệ huynh Thầy tổ làm gì được đâu.
Than ôi!
Sống đã chẳng mong cầu danh lợi
Chết cũng không kịp đợi nén nhang
Tây phương tâm hướng nhẹ nhàng
Tiện đây xin lập đàn tràng kỳ siêu.
Bệnh covid thật điều quái lạ
Chẳng từ ai tất cả giàu nghèo
Sang hèn gì cũng nhóc nheo
Trẻ già trai gái bọt bèo như nhau.
Luật nhân quả trước sau như một
Bởi tham sân cùng tột ở đời
Chung quy cũng tại con người
Duyên sanh duyên hợp khóc cười bể dâu
Rằm tháng Bảy ai cầu Phật Tổ
Nước từ bi phổ độ quần sanh
Nguyện cho tất cả hương linh
Nương nhờ pháp Phật cõi lành an vui.
Thuỳ Ngữ Thất, Vu Lan 2565.
Nhất Thanh Thích Nguyên Hiền
Xin gửi những ai còn ở lại một nụ bạch hồng cho mùa Vu Lan này !!!

——=——-

BÀI THAM KHẢO THÊM:
Văn tế thập loại chúng sinh
Thơ » Việt Nam » Nguyễn » Nguyễn Du

Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô,
Não người thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.
5. Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Ngọn đường lê lác đác sương sa,
Lòng nào là chẳng thiết tha,
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.
Trong trường dạ tối tăm trời đất,
10. Có khôn thiêng phảng phất u minh,
Thương thay thập loại chúng sinh,
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.
Hương khói đã không nơi nương tựa,
Hồn mồ côi lần lữa đêm đen,
15. Còn chi ai quí ai hèn,
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?
Tiết đầu thu lập đàn giải thoát
Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi
Muôn nhờ đức Phật từ bi,
20. Giải oan, cứu khổ, hồn về tây phương.

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh,
Chí những lăm cướp gánh non sông,
Nói chi những buổi tranh hùng
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau.
25. Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở
Khôn đem mình làm đứa sất phu,
Lớn sang giàu nặng oán thù,
Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.
Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,
30. Quỷ không đầu than khóc đêm mưa
Cho hay thành bại là cơ
Mà cô hồn biết bao giờ cho tan!

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ,
Những cậy mình cung quế Hằng Nga,
35. Một phen thay đổi sơn hà,
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?
Trên lầu cao dưới cầu nước chảy
Phận đã đành trâm gãy bình rơi,
Khi sao đông đúc vui cười,
40. Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.
Đau đớn nhẽ không hương không khói,
Luống ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.
Thương thay chân yếu tay mềm
Càng năm càng héo, một đêm một rầu.

45. Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,
Ngọn bút son thác sống ở tay,
Kinh luân găm một túi đầy,
Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.
Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,
50. Trăm loài ma mồ nấm chung quanh,
Nghìn vàng khôn đổi được mình
Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu?
Kẻ thân thích vắng sau vắng trước
Biết lấy ai bát nước nén nhang?
55. Cô hồn thất thểu dọc ngang,
Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hoá sinh.

Kìa những kẻ bài binh bố trận
Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung.
Gió mưa sấm sét đùng đùng,
60. Dãi thây trăm họ nên công một người.
Khi thất thế tên rơi đạn lạc,
Bãi sa trường thịt nát máu rơi,
Bơ vơ góc bể chân trời,
Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?
65. Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,
Khí âm huyền mờ mịt trước sau,
Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,
Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú,
70. Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn,
Ruột rà không kẻ chí thân
Dẫu làm nên để dành phần cho ai?
Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,
Của phù du dẫu có như không,
75. Sống thời tiền chảy bạc ròng,
Thác không đem được một đồng nào đi.
Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm
Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm
Ngẩn ngơ trong quãng đồng chiêm,
80. Nén hương giọt nước, biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý
Dấn mình vào thành thị lân la,
Mấy thu lìa cửa lìa nhà,
Văn chương đã chắc đâu mà trí thân?
85. Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng,
Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,
Anh em thiên hạ láng giềng người dưng.
Bóng phần tử xa chừng hương khúc
90. Bãi tha ma kẻ dọc người ngang,
Cô hồn nhờ gửi tha phương,
Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,
Cánh buồm mây chạy xế gió đông
95. Gặp cơn giông tố giữa dòng,
Đem thân vùi rấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán,
Đòn gánh tre chín dạn hai vai,
Gặp cơn mưa nắng giữa trời,
100. Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khoá lính,
Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan,
Nước khe cơm ống gian nan,
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.
105. Buổi chiến trận mạng người như rác,
Phận đã đành đạn lạc tên rơi.
Lập loè ngọn lửa ma trơi,
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,
110. Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,
Ngẩn ngơ khi trở về già,
Đâu chồng con tá biết là cậy ai?
Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,
115. Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi,
Thương thay cũng một kiếp người,
120. Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan!

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc
Gửi mình vào chiếu rách một manh.
Nắm xương chôn rấp góc thành,
Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?

125. Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha.
Lấy ai bồng bế vào ra,
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,
130. Cũng có người sẩy cối sa cây,
Có người leo giếng đứt dây,
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.
Người thì mắc sơn tinh thuỷ quái
Người thì sa nanh sói ngà voi,
135. Có người hay đẻ không nuôi,
Có người sa sẩy, có người khốn thương.
Gặp phải lúc đi đường lỡ bước
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
140. Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi,
Hoặc là nương ngọn suối chân mây,
Hoặc là bụi cỏ bóng cây,
Hoặc nơi quán nọ cầu này bơ vơ.
145. Hoặc là nương thần từ, Phật tự
Hoặc là nơi đầu chợ cuối sông
Hoặc là trong quãng đồng không,
Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết,
150. Gan héo khô dạ rét căm căm,
Dãi dầu trong mấy mươi năm,
Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương.
Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,
Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra,
155. Lôi thôi bồng trẻ dắt già,
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.
Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,
Phóng hào quang cứu khổ độ u,
Rắp hoà tứ hải quần chu,
160. Não phiền rũ sạch, oán thù rửa không.
Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,
Chuyển pháp luân tam giới thập phương,
Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương,
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.
165. Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh,
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao,
Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.
Kiếp phù sinh như hình bào ảnh,
170. Có chữ rằng: “Vạn cảnh giai không”
Ai ơi lấy Phật làm lòng,
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.
Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,
Của có chi bát cháo nén nhang,
175. Gọi là manh áo thoi vàng,
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.
Ai đến đây dưới trên ngồi lại,
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.
Phép thiêng biến ít thành nhiều,
180. Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sình.
Phật hữu tình từ bi phổ độ
Chớ ngại rằng có có không không.
Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng
Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.

Bài này còn gọi là Văn chiêu hồn hay Văn tế chiêu hồn, hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên Đông Dương tuần báo năm 1939 thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Tuy nhiên, GS. Hoàng Xuân Hãn lại cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết tác phẩm này trước cả Truyện Kiều, tức khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802-1812).

Sách Từ điển văn học (bộ mới) cho biết người đầu tiên phát hiện bài văn tại chùa Diệc ở thành phố Vinh là GS. Lê Thước. Nhưng cổ nhất là bản khắc ván năm 1895 của nhà sư Chính Đại (nên được gọi là bản Chính Đại), được tàng trữ ở chùa Hưng Phúc, xã Xuân Lôi, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh. Từ hai bản này, Hoàng Xuân Hãn đã khảo chứng, hiệu đính kỹ lưỡng và đã đưa ra một văn bản khác có độ tin cậy cao hơn.

Trích đoạn bài thơ này được sử dụng làm bài đọc thêm trong chương trình SGK Văn học 10 giai đoạn 1990-2006.

Nguồn: Văn tế cổ và kim, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1960