TIỂU SỬ
HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN TÁNH
Húy thượng NHỰT hạ LAI, hiệu HUỆ VIÊN

I. THÂN THẾ
Hoà thượng Thích Thiện Tánh thế danh Nguyễn Trường Chính, sinh năm 1925, là con út trong 5 anh em trai của một gia đình trung lưu Phật giáo ở xã An Định, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Thưở nhỏ, Hoà thượng rất hiếu học và hiền lương nên được mọi người thương quí. Nhưng vì sinh ra nhằm thời đất nước chiến tranh, nên Hoà thượng chịu nhiều ảnh hưởng của thời loạn lạc nhưng đặc biệt vẫn giữ tâm hướng Phật.
Năm 1940, Hoà thượng theo song thân từ Bến Tre lên Châu Đốc thăm người anh cả. Chẳng may, Hoà thượng lâm bạo bệnh giữa đường nên vừa đến Châu Đốc thì Hoà thượng trút hơi thở sau cùng. Song thân của Hoà thượng không biết phải xoay sở thế nào nơi đất khách quê người khi chưa tìm được nhà của người con trai cả mà đã lâm đại nạn, nên quết định vào chùa Long Khánh, ấp Hoà Lạc, xã Khánh Hoà, Châu Đốc để xin Tổ Hồng Phó – Huệ Pháp cho đất chôn con. Thương cảnh tình khốn khó, Tổ chỉ mảnh đất sau vườn chùa cho gia đình đào huyệt chôn. Gặp cảnh hoạn nạn khốn khó nên song thân chỉ có thể bó chiếu đem chôn con mình trong nước mắt, khi mang xác Hoà thượng ra chuẩn bị vùi xuống huyệt mộ thì trời bất chợt đổ ập cơn mưa lớn, mọi người chạy vào chùa trú mưa nhìn ra thấy chiếc chiếu nhúc nhích, hiếu kỳ ra xem thì phát hiện Hoà thượng đã sống lại nên vội vàng tháo chiếu ra đưa Hoà thượng vào Tổ đường của chùa để bạch với Tổ. Tổ bước ra nhìn và nói: “ông này có cơ duyên với chùa nên chưa chịu đi mà đã dừng chân lại đây.” Nói xong, Tổ chính thức nhận Hoà thượng làm đệ tử rồi xuất gia tại chỗ với sự hoan hỷ của mẹ cha tại Tổ đình Long Khánh và được Tổ ban cho pháp danh Thiện Tánh huý Nhựt Lai.
II. ĐẠO NGHIỆP
Sau khi được xuất gia, Hoà thượng hằng ngày tinh tấn công phu tu tập và được Tổ chữa cho lành bệnh sau 3 tháng. Tuy sức khoẻ yếu nhưng, Hoà thượng rất chăm chỉ học chữ nho và siêng năng chấp tác nên được huynh đệ thương mến. Có khi từ chùa Long Khánh, Hoà thượng đi bộ 18 cây số đến hỏi chữ nghĩa và đạo lý với Sư thúc của mình là HT. Thích Huệ Châu trụ trì chùa Tây An và Định Long ở Núi Sam. Chính nhờ tư cách nghiêm cẩn và đạo hạnh tinh chuyên như thế nên Hoà thượng được Tổ cho tấn tam đàn thọ cụ tại Giới đàn chùa Tây An năm 1945.
Năm 1946, Hoà thượng Tổ viên tịch nên Hoà thượng nương với đại Sư huynh trụ trì của mình là HT. Thích Thiện Huyền. Những tưởng, được tu học bình yên trong Đại chúng của ngôi chùa quê xứ Châu Đốc, nào ngờ tứ phương giặc giã, loạn lạc khắp nơi. Chùa Long Khánh bị tấn công nên Tăng chúng tứ tán khắp nơi nhưng đa phần theo Hoà thượng trụ trì về chùa Long An ở ngã ba Cần Thơ thuộc Vĩnh Long lánh nạn, còn Hoà thượng theo Sư huynh Thích Thiện Ngọc về Sóc Trăng để giúp đỡ gia đình sư huynh bị bom đạn phá huỷ, rồi cũng từ đây Hoà thượng tham gia cách mạng, làm Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh Sóc Trăng.
Năm 1954, sau khi hoà bình hiệp định Geneve được ký kết, Hoà thượng không ra Bắc tập kết mà về chùa Bửu Lâm của Tổ Cái Bèo ở Tiền Giang nương với HT. Thích Thiện Tài và sau đó được Hòa thượng đưa lên tòng học tại Trường Lục Hòa Tăng ở Tổ đình Giác Viên, Chợ Lớn.
Từ trong chiến tranh, Hòa thượng đã ngán ngẫm cảnh bắn giết hận thù nên khi tòng học ở Trường Lục Hòa Tăng lại chứng kiến cảnh bị tác động bởi chính trị, đảng phái nên Hòa thượng lại cảm thấy không hợp mà bắt đầu cho cuộc vân du hành đạo ở những nơi hoang vu hẻo lánh tại các chùa An Sơn – Núi Tượng ở Tri Tôn, chùa Ngọc Tuyền núi Kỳ Vân ở Long Hải, chùa Từ Quang ở Lộc Ninh, chùa Quan Âm ở Cà Mau… Bao nhiêu năm tháng vân du như thế, Hòa thượng lại xuôi theo dòng đời sau 18 năm xuất gia tìm đạo với bao phiền muộn của người sanh ra không gặp thời may.
Năm 1964, Hòa thượng về Chơn Đức thiền viện ở Bà Chiểu cầu pháp với HT. Thích Từ Quang – Pháp chủ Giáo hội Thiền Tông Việt Nam và được ban pháp hiệu Huệ Viên, Hòa thượng ẩn tu tại nơi đây sau bao năm lữ thứ làm mây phiêu bạt khắp phương trời. Cũng năm này, Hòa thượng được Ân sư cho tấn tam đàn thọ cụ, trú trong ngôi thiền viện khép kín, Hòa thượng được Ân sư truyền dạy cho pháp môn thiền tịnh mật phối hợp, hành trì theo thâm nghĩa kinh Kim Cang. Thời gian này, gần như Hòa thượng bặt hết các ngoại duyên mà chuyên tâm tu hành không màng đến bất cứ những thứ phù hư của huyễn mộng. Từ chối cả trụ trì Chơn Đức thiền viện 2 ở Hóc Môn khi được Ân sư tin tưởng giao phó năm 1972, ngày ngày chỉ biết tìm niềm vui với kệ kinh và chuyên tâm niệm Phật, tọa thiền theo thời khóa trú dạ lục thời không thay đổi suốt mười mấy năm trời.
Đến năm 1986, HT. Thích Minh Thành khai sơn chùa Minh Đạo đường Kỳ Đồng ở quận 3, Tp HCM vốn là huynh đệ đồng sư cùng xuất gia chung ở Tổ đình Long Khánh tại Châu Đốc bận nhiều Phật sự nên thỉnh Hòa thượng về trụ trì. Trước đây, HT. Thích Minh Thành bận lo Phật sự tại Tổ đình Ấn Quang nên thỉnh HT. Thích Bửu Chánh trụ trì chùa Minh Đạo, sau khi HT. Thích Bửu Chánh viên tịch thì thỉnh Hòa thượng quản lý và điều hành Phật sự ở chùa này một thời gian.
Dấu mốc quan trọng, đầu năm 1991, HT. Thích Huệ Hưng – Tổng Quản sự Tổ đình Ấn Quang thừa hành di nguyện cố HT. Thích Thiện Hòa ra Đại Tòng Lâm lập Viện Chuyên Tu. Chỉ vừa mới cất một căn nhà nhỏ, đổ đất chuẩn bị xây dựng thì HT. Thích Huệ Hưng viên tịch nên các vị Tôn túc tại tổ đình Ấn Quang đã thỉnh Hòa thượng ra tiếp quản Viện Chuyên Tu để trông coi Phật sự tại nơi này, đánh dấu nhân duyên của Hòa thượng với Phật giáo khu vực núi rừng miền Thị Vải. Cùng năm này, Ban Giám hiệu trường Phật học Đại Tòng Lâm mời Hòa thượng làm Quản chúng, Hòa thượng đã nhiệt tình tham gia và hết sức nghiêm khắc, cẩn kỹ với Tăng sinh Khóa I, Khóa II của bản trường, giúp các huynh đệ học Tăng lập giữ vững chí nguyện tu học.
Năm 1994, Hòa thượng quyết chí hạ thủ công phu nên từ chối tham gia các hoạt động Phật sự bên ngoài, mà quay về chuyên tu tịnh nghiệp, dốc tâm giáo dạy chúng đệ tử của Viện Chuyên Tu và dường như tuyệt hẳn cả ngoại duyên để dành hết thời gian cho hành trì tụng niệm, bái sám.
Năm 1999, Hòa thượng đã hoan hỷ lui về đây ẩn tu sau khi nhường lại 4 mẫu đất cho Giáo hội xây dựng Đại tự. Như vậy, đã 15 năm dài, hòa thượng không ra khỏi tu viện và dường như đoạn hết các duyên mà chuyên tâm công phu bái sám. Công hạnh thầm lặng của Hòa thượng làm cho Tăng Ni luôn kính phục và Phật tử tin tưởng. Dù tuổi hạc đã cao, nhưng Hòa thượng vẫn miên mật trì kinh, tụng niệm, bái sám không biết mòn mỏi, hiếm khi gặp gỡ nhưng ai ai cũng nhớ đến Hòa thượng, người không làm công tác giáo dục nhưng đã dạy cho thế hệ hậu học hạnh buông xả – khiêm cung, người không tham gia Phật sự của Giáo hội nhưng đóng góp cho Giáo hội những đệ tử có tâm có tài, người không nói nhiều nhưng đã gửi lại cho Tăng Ni một tấm gương lặng thầm và biết đủ, người không giao du rộng nhưng đã khai thị cho chúng Phật tử hạnh bố thí bao dung…thật đáng làm “hậu lai qui cảnh”.
III.QUY TỊCH
Bi giả, nhẫn giả
Nhẫn giả, trí giả
Trí giả, bất động giải thoát viên dung giả.
Tịch lặng trên chóp đỉnh cao
Đường hẹp trần gian rũ bỏ
Mênh mang trời rộng tiêu dao
Khứ lai vận hành đã tỏ.
Hòa thượng lâm trọng bệnh trong những năm tháng gần đây nhưng vẫn tiêu dao tự tại với kệ kinh trên giường bệnh, khi khỏe thì đối trước án Phật trì tụng – lúc mệt thì mặc niệm trong tâm, miệng không ngưng câu Phật hiệu, tâm chẳng rời tánh chơn như.
Sau cơn mệt kéo dài suốt một ngày, Hòa thượng nói với chúng đệ tử “mở cửa cho thầy đi!” rồi từ từ thâu thần thị tịch vào lúc 14 giờ 30 ngày 27 tháng 01 năm 2015 (nhằm ngày mùng 08 tháng chạp năm Giáp Ngọ), hưởng thọ 90 tuổi, 50 hạ lạp.
Cao cả thay!
Người đến dương trần như trăng hòa đáy nước
Hương đạo hạnh lưu nhuận khắp mười phương,
Nụ cười hiền trao gởi từ tâm vô lượng
Nếp sống bình dị hiển bày khiêm ý vô biên,
Tòng Lâm đại thọ xứng danh mật hạnh thượng sĩ
Thiền môn long tượng rạng ngời chí trượng phu.
Kính tiếc thay!
Công hạnh cao dường thế,
Cuối đời hiện thân bệnh giáo hóa quần mê!
Dùng bài học khổ bịnh để kinh qua con đường tử sinh,
Tâm nhu hàng phục cường bịnh,
Đức nhẫn chuyển hóa cơn đau.
Quên cả thân suy yếu, gặp người vẫn an ủy khuyên tu
Đến đi chẳng tư duy, phủi tay làm khách ra vào ba cõi.
Than ôi!
Một bước lên đường theo duyên tụ tán
Qua cửa vô môn xin tiễn biệt người.
Hòa thượng mỉm cười – Tăng Ni xót dạ
Tấm lòng nhân hậu rạng mãi hóa thành.
Từ nay, hoa trắng tung bay khắp trời Vạn Hạnh,
Chuyên Tu, thinh lặng khóc người vào cõi thiên thu.
Nam mô Chuyên Tu đường thượng, Từ Lâm Tế Gia phổ tứ thập nhất thế, húy thượng Nhựt hạ Lai, hiệu Huệ Viên tự Thiện Tánh, Nguyễn công Hòa thượng giác linh, phủ thùy chứng giám.
Chùa Thiên Long – Thị Xã Phú Mỹ, Vũng Tàu