Lịch sử truyền thừa và những điều cần biết về việc Truyền – Thọ giới Tỳ-kheo-ni ở Việt Nam

Tuy nhiên, cách thời Phật quá xa, việc truyền thọ Tỳ-kheo-ni giới có gì thay đổi và khác biệt so với thời đức Phật? Lịch sử truyền thừa Tỳ-kheo-ni ở Việt Nam như thế nào? Làm thế nào để việc truyền thọ Tỳ-kheo-ni giới đúng như pháp? Đây là những vấn đề mà chúng ta cần bàn luận.

  1. Dẫn nhập

Sự kiện đức Phật chấp nhận cho nữ giới xuất gia và thành lập Ni đoàn đã nâng tầm vị trí người phụ nữ lên bậc cao ngang bằng với nam giới. Đây là một việc làm duy nhất và chưa từng có trong lịch sử tôn giáo. Để rồi hơn 25 thế kỷ trôi qua, mặc dù nhiều hệ thống tôn giáo phát triển với nhiều tiến bộ, nhưng vẫn chưa có một tôn giáo nào thành lập giáo hội cho nữ tu sĩ. Điều đó, đủ thấy đức Phật từ bi đến mức nào, Ngài đã đưa người nữ từ địa vị thấp kém, bị xem thường lên hàng cao quý và danh dự này. Tuy nhiên, để nhận lãnh được những đặc ân đó và nắm giữ được những gì đức Phật truyền trao thì người nữ phải có những nguyên tắc nhất định. Điều kiện căn bản để trở thành bậc chúng trung tôn, một thành viên của Ni đoàn, của Giáo hội thì người nữ đó phải thọ Tỳ-kheo-ni giới.

Tuy nhiên, cách thời Phật quá xa, việc truyền thọ Tỳ-kheo-ni giới có gì thay đổi và khác biệt so với thời đức Phật? Lịch sử truyền thừa Tỳ-kheo-ni ở Việt Nam như thế nào? Làm thế nào để việc truyền thọ Tỳ-kheo-ni giới đúng như pháp? Đây là những vấn đề mà chúng ta cần bàn luận.

  1. Lịch sử truyền thừa Tỳ-kheo-ni ở Việt Nam

Lịch sử truyền thừa Tỳ-kheo-ni ở Việt Nam như thế nào và Tỳ-kheo-ni đầu tiên là ai? Đó là những câu hỏi được nhiều người quan tâm nhưng câu trả lời vẫn còn mờ nhạt và đang là một ẩn số. Để hiểu rõ hơn về điều này, chúng ta cùng tìm hiểu lịch sử truyền thừa Tỳ-kheo-ni ở các nước có ảnh hưởng đến Phật giáo Việt Nam.

Thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch, con trai của vua Aśoka là Tỳ-kheo Mahinda đến Sri Lanka (Tích lan) để truyền giáo. Nhận thấy cần có một Ni đoàn để truyền giới tỳ-kheo-ni tại nơi đây, nên Mahinda đã thưa với vua cha cho em gái của mình là tỳ-kheo-ni Saṅghamittā cùng một số tỳ-kheo-ni đến Sri Lanka. Chính Mahinda cùng với ni đoàn của tỳ-kheo-ni Saṅghamittā đã tổ chức truyền giới tỳ-kheo-ni đủ nhị bộ Tăng-già, thế là Tăng đoàn ni được thành lập tại đó (khoảng cuối thế kỷ thứ 3 TCN), và cũng chính dòng truyền thừa này truyền sang Trung Quốc.[1]

Tại Trung Quốc, năm 357, niên hiệu Thăng Bình, đời Tấn, sa-môn Đàm-ma-kiết-đa tổ chức giới đàn truyền giới tỳ-kheo-ni cho cô Tịnh Kiểm[2] cùng với 4 vị ni. Tuy nhiên, năm 429, niên hiệu Nguyên gia thứ 6 thời Lưu Tống, sa-môn Cầu-na-bạt-ma[3] đến Trung quốc lại không công nhận sự đắc giới của những tỳ-kheo-ni trước đó, vì không đủ nhị bộ Tăng. Ngài muốn tổ chức giới đàn để truyền giới cho Ni nhưng lúc bấy giờ ở Trung quốc chỉ có 8 tỳ-kheo-ni (người Sri Lanka), nên ngài cử người sang Sri Lanka thỉnh thêm. Mãi đến năm 434, giới đàn mới được khai mở và có đủ nhị bộ Tăng-già. Giới đàn này đã truyền giới cho tỳ-kheo-ni Tuệ Quả và một số vị ni khác. Từ đó, trong lịch sử thành lập Ni đoàn ở Trung Quốc, người ta chỉ công nhận Tuệ Quả là tỳ-kheo-ni đầu tiên, chứ không phải Tịnh Kiểm.

Tại Việt Nam, Phật giáo du nhập vào nước ta khá sớm, một giả thuyết cho rằng có thể Phật giáo du nhập vào nước ta khoảng thế kỷ thứ 2-3 TCN[4] với sự hiện diện của nhà sư Phật Quang.[5] Thời kỳ này không nói đến các sư ni tu tập, học đạo. Đến đầu TK I, lịch sử có nói đến vị Sư ni tên là Bát Nàn và một số nữ tướng khác ẩn tu như Thiều Hoa, Vĩnh Huy, Phương Dung, Nguyệt Thai, Nguyệt Độ, Chiêu Dung, Hương Thảo,… Hiện nay, tại chùa Yên Phú, huyện Thanh Trì thuộc thành phố Hà Nội còn có bia ký, sắc phong về công lao của Ni sư Phương Dung, một trong 5 vị nữ tướng của Hai Bà Trưng.[6] Tuy nhiên, có lẽ những vị ni này chỉ xuất gia và thọ tam quy ngũ giới chứ không thấy được truyền giới Tỳ-kheo-ni. Đến thế kỷ thứ II – III, trong tác phẩm Lý hoặc luận, Mâu Tử đã mô tả tình hình Phật giáo đương thời có nhiều tu sĩ (sa-môn) nhưng không đề cập đến Tỳ-kheo-ni. Đến thời Khương Tăng Hội, ngài có nói xuất gia được “ba thầy” dạy dỗ. Từ “ba thầy” là thành ngữ trong giới đàn Phật giáo chỉ cho ‘tam sư thất chứng’. Điều này cho thấy lúc này có nghi thức truyền giới cho tỳ-kheo, nhưng hoàn toàn không hề nhắc đến tỳ-kheo-ni.[7]

Đến thời Lý, Phật giáo thịnh hành, lịch sử ghi lại việc triều đình cấp độ điệp cho nhân dân làm sãi; lập giới trường cho Tăng đồ thọ giới…[8] nhưng chúng ta cũng không thấy nói gì đến giới đàn truyền giới cho Ni. Một số những người nữ xuất gia như: Thời Lý có Ni sư Diệu Nhân (1042-1113) xuất gia thọ giới Bồ-tát với thiền sư Chân Không; đời Trần có Công chúa Huyền Trân (1287-1340) xuất gia thọ Bồ-tát giới ở núi Trâu Sơn (Bắc Ninh)[9]; người con gái họ Phạm cũng xuất gia ở núi Thanh Lương, được vua ban đạo hiệu là Tuệ Thông đại sư[10]. Các vị sư ni này đều được sử sách ghi lại việc xuất gia thọ giới Bồ-tát chứ không nói đến thọ Tỳ-kheo-ni giới.

Đến thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai miền: Đàng Trong và Đàng Ngoài. Đặc biệt ở Đàng trong, Phật giáo phát triển, nhiều giới đàn được tổ chức như: giới đàn tại chùa Thiên Mụ (Huế) vào khoảng năm 1687-1690, có các vị giới sư là thiền sư Nguyên Thiều, Thiền sư Giác Phong, Từ Lâm, Minh Hải; giới đàn ở chùa Thiền Lâm và chùa Di Đà ở Hội An vào năm Ất Hợi (1695), giới sư có thiền sư Thạch Liêm người Trung Quốc… Nhưng các giới đàn này đều không đề cập đến giới tử Ni.

Đặc biệt, vào năm Bính Thìn (1796), giới đàn do thiền sư Pháp Chuyên tổ chức, truyền giới cho 200 Tăng ni tại Phú Yên[11]. Điều này, cho thấy giới đàn này có truyền giới cho Tỳ-kheo-ni. Nhưng nghi vấn có thể đặt ra, vậy “thập sư ni” là ai? Họ từ đâu đến? Và tỳ-kheo-ni nào thọ giới đầu tiên ở Việt Nam?

Vào thời Chúa Nguyễn ở Đàng trong, có nhiều nữ giới hoàng tộc và cung nữ đi tu và lập chùa. Trong đó có một số vị được nhắc đến đã được thọ giới như: sa-di-ni Hải Châu[12], tỳ-kheo-ni Hải Bình[13] thọ giới cụ túc tại giới đàn chùa Báo Quốc, do thiền sư Diệu Giác làm Hòa thượng đàn đầu.[14] Sử liệu này cho chúng ta đặt một số nghi vấn. Thứ nhất, liệu sư Hải Bình là tỳ-kheo-ni đầu tiên thọ giới cụ túc bạch tứ yết-ma thông qua nhị bộ Tăng-già không? Thứ hai, nếu sư Hải Bình là tỳ-kheo-ni đầu tiên, thì thập giới sư ni truyền giới là người ngoại quốc hay người Việt Nam? Thứ ba, nếu 10 giới sư ni ấy là người Việt thì 10 vị đó đó thọ giới từ đâu và họ có phải là những tỳ-kheo-ni đắc giới (như pháp) trước Hải Bình? Thứ tư, có thể nghĩ đến giả thuyết là giới đàn này không có thập giới sư ni?

Như vậy, có thể thấy, từ thời Bát Nàn phu nhân (thế kỷ I) cho đến thế kỷ XVII, Phật giáo Việt Nam dường như không có đàn truyền giới cho Tỳ-kheo-ni. Từ giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, Phật giáo mới có đàn truyền giới cho Tỳ-kheo-ni nhưng việc thực hiện đàn truyền giới có đúng như pháp như luật hay không và Tỳ-kheo-ni nào thọ giới đầu tiên là những vấn đề chưa được sáng tỏ. Liên quan đến vấn đề này, Giáo sư Lê Mạnh Thát cho rằng Phật giáo thời kỳ này mang sắc thái dân tộc và do tiếp thu lâu dài hệ tư tưởng giới luật của thiền phái Trúc Lâm (dùng hệ thống giới thập thiện tức Bồ-đề tâm giới) nên dẫn đến việc người xuất gia chỉ cần thọ tam quy ngũ giới hay Bồ tát giới.[15]

  1. Các bước truyền thọ giới Tỳ-kheo-ni theo Luật tạng

Theo Luật tạng, điều kiện chính yếu để đắc giới Tỳ-kheo-ni đó là giới tử Ni phải đến nhị bộ Tăng già để cầu thọ giới pháp. Nói một cách dễ hiểu hơn là một Thức-xoa-ma-na sau khi đã đủ hai năm thanh tịnh và hội đủ những điều kiện theo quy định, được phép thọ Cụ túc trước hai bộ Tăng gồm 10 vị Tỳ-kheo và 10 vị Tỳ-kheo-ni; nơi biên địa xa xôi thì mỗi bộ Tăng gồm 5 vị[16]. Việc truyền thọ giới Tỳ-kheo-ni được chia làm hai giai đoạn: Bản bộ Yết-ma và Chánh pháp Yết-ma.

Giai đoạn 1:  Bản bộ Yết-ma: là tác pháp Yết-ma giữa Ni bộ, thuật ngữ chính xác là Tăng Tỳ-kheo-ni. Phần này gồm 8 mục trong quá trình Yết-ma: 1) Thỉnh Hòa thượng Ni; 2) Yết-ma sai giáo thọ Ni; 3) Giáo thọ Ni hướng dẫn giới tử về các già nạn; 4) Đơn bạch gọi giới tử đến trước Tăng; 5) Giới tử bạch Tăng xin giới; 6) Đơn bạch chính thức hỏi các già nạn trước Tăng; 7) Chính thức hỏi các già nạn; 8) Bạch tứ Yết-ma trao giới Cụ túc. Sau khi Ni bộ bạch tứ Yết-ma thì dứt phần Bản bộ Yết-ma. Ngay hôm đó, Ni bộ dẫn các giới tử Ni sang đại Tăng cầu Chánh giới và không được để cách đêm. Lưu ý chữ “Tăng” trong mục 4, 5, 6 là chỉ cho Ni bộ (Tăng Tỳ-kheo-ni).

Giai đoạn 2: Chánh pháp Yết-ma tức là nghi thức tác pháp Yết-ma giữa Tăng Tỳ-kheo. Theo Luật Tứ phần, Thập sư Ni sẽ dẫn giới tử Ni đến trước Tăng Tỳ-kheo để cầu thọ chánh giới. Tăng Tỳ-kheo sẽ hỏi giới tử Ni có thanh tịnh không? Tiếp đến hỏi vị Giáo thọ Ni xem các giới tử này có thanh tịnh không? Xong phần này thì phận sự Ni bộ xem như tạm xong. Các giới sư Ni phải tạm ra khỏi giới trường, để Tăng Tỳ-kheo tiến hành tác pháp Yết-ma truyền giới cho giới tử Ni (vì Tăng và Ni không được chung một giới trường làm Yết-ma). Sau đó, các mục khác như: tám Ba-la-di, các pháp sở y, bát kỉnh pháp… phải do Tăng truyền trong Chánh pháp Yết-ma này4.

  1. Một vài lưu ý về việc truyền – thọ giới Tỳ-kheo-ni ở nước ta hiện nay

Về việc truyền thọ giới pháp cho giới tử, phần lớn các đàn truyền giới đều y theo Luật tạng mà thực hiện các nghi thức truyền giới cho Tỳ-kheo-ni như đã nói ở mục trên gồm hai giai đoạn: Bản bộ yết ma và Chánh pháp yết ma. Tuy nhiên, gần đây, một số giới đàn truyền giới cho Tỳ-kheo-ni lại có một vài sự thay đổi, sai khác. Ví dụ như về Bản bộ yết ma là sẽ thực hiện 8 bước nêu trên. Tuy nhiên, các giới sư ni sau khi thực hiện 8 bước, lại truyền 8 pháp ba-la-di, các pháp sở y, xả mạn y, thọ năm y, thọ bát, thọ tọa cụ, thọ đãy lọc nước cho giới tử. Đến phần Chánh pháp yết ma, vấn đề hướng dẫn giới tử Ni tiến hành các thủ tục cầu thỉnh được mạch lạc thì giới đàn hiện nay đã có vị dẫn thỉnh, ở đây không bàn đến. Vấn đề muốn nói là đối với 8 pháp ba-la-di và các vấn đề khác, các giới tử đã thọ bên Ni bộ rồi nên đến đây Tăng Tỳ-kheo chỉ dạy Bát kỉnh pháp mà thôi. Với nghi thức truyền giới này chúng ta cần ngồi lại để phân tích một số thay đổi này nên hay không nên làm?

Trước tiên, về tác pháp yết ma, Tăng Tỳ-kheo sẽ hỏi các già nạn của giới tử và sau đó Tăng Tỳ-kheo tiến hành tác pháp Yết-ma truyền giới cho giới tử Ni. Lẽ ra, xong phần già nạn thì phận sự Ni bộ xem như tạm xong, giới sư Ni phải tạm ra khỏi giới trường, để Tăng Tỳ-kheo tiến hành tác pháp Yết-ma truyền giới cho giới tử Ni. Nhưng có lẽ do một vài lý do bất tiện (…) mà hiện nay một số giới đàn lại để giới sư Ni ngồi chung trong giới trường, ở trên thì Tăng Tỳ-kheo vẫn tác pháp Yết-ma bình thường. Thiết nghĩ, căn cứ theo Luật tạng, yết-ma như vậy là chưa hợp lý, mà khi yết-ma chưa đúng thì liệu rằng giới tử có đắc giới không? Trong Luật tạng ghi lại “Thọ giới giữa hai bộ Tăng” cần được hiểu là trình diện với hai bộ Tăng, chứ không phải hai bộ Tăng cùng trong giới trường mà tác pháp Yết-ma?

Thứ hai, sau khi Tăng Tỳ-kheo bạch tứ Yết-ma xong, lúc đó giới thể Tỳ-kheo-ni mới được thành tựu, giới tử Ni chính thức trở thành Tỳ-kheo-ni. Khi giới thể thành tựu thì Tăng Tỳ-kheo mới bắt đầu nói về giới tướng, gồm tám giới ba-la-di, các pháp sở y, tám kỉnh pháp, và các vấn đề y bát cũng được tiến hành ở đây. Hay nói cách khác, giới thể đã thành tựu thì mới lãnh thọ giới tướng. Nhưng hiện nay, một số giới đàn lại làm khác với điều này, tức Ni bộ truyền luôn tám ba-la-di, các pháp sở y, và y bát, tọa cụ… ngay trong phần phần Bản bộ Yết-ma tại giới trường Ni. Chúng ta cùng phân tích xem một ví dụ như giới tử Ni khi được truyền giới và thọ giới Tỳ-kheo-ni xong, đến khi thọ y bát (ở phần Bản bộ Yết-ma), xưng “con là Tỳ-kheo-ni ….”. Nhưng sau đó, khi đến Tăng bộ cầu chánh giới, giữa Tăng Tỳ-kheo thì lại xưng “con là Thức-xoa-ma-na…” Cách làm như vậy có cái gì đó chưa ổn và không hợp lý. Hoặc cũng có giới đàn lại cho các giới tử đắp y Tỳ-kheo-ni khi đến Đại Tăng cầu chánh giới lại xưng là Thức-xoa-ma-na nhưng trên thân giới tử đã khoác y Tỳ-kheo-ni?

Trên là một vài ví dụ đơn cử cho việc thực hiện một số những thay đổi trong việc truyền giới cho Tỳ-kheo-ni tại một số các giới đàn hiện nay, nhưng nó thực sự chưa phù hợp. Đó là chúng ta còn chưa nói đến việc truyền – thọ giới nói chung và nhất là truyền – thọ Tỳ-kheo-ni là một việc làm hết sức quan trọng trong việc duy trì mạng mạch Phật pháp thì yếu tố căn bản là phải y cứ vào Luật tạng.

Như chúng ta biết, đối với người xuất gia, việc thọ giới là một yếu tố quan trọng trong cả quá trình tu tập; việc này ảnh hưởng đến hành sự, tu tập của chính vị giới đó. Bởi vì, có đắc giới thì vị ấy mới có giới thể thanh tịnh, được các vị thần hộ giới bảo vệ; giới đức cũng từ nền tảng đó mà phát sanh trong quá trình tu tập, hành trì giới luật của Phật sau khi thọ giới.

Để người cầu giới được đắc giới thể thanh tịnh thì ba yếu tố cốt tủy phải bảo đảm xuyên suốt trong quá trình tổ chức Đại giới đàn: Giới tử phát tâm dõng mãnh, Giới sư thanh tịnh và đàn tràng trang nghiêm. Ba yếu tố này gắn bó mật thiết với nhau. Một điều quan trọng không thể thiếu, đó là việc truyền giới phải như pháp, như luật (bạch tứ Yết-ma, bạch nhị Yết-ma phải đúng và đủ). Ví dụ như khi “bạch tứ Yết-ma” thì ba vị trong Tam sư không được nói “Thành”, mà chỉ có bảy vị Tôn chứng sư mới được nói “Thành”. Nhưng lắm lúc có những vị Tôn chứng sư lại không nói ra thành lời là “Thành” hoặc Tam sư lại nói “Thành”, như vậy yết-ma ấy không thành tựu, tất nhiên giới tử sẽ không đắc giới. Chính vì vậy, việc lựa chọn giới sư là rất quan trọng, ngoài yếu tố thanh tịnh, giới sư phải hiểu biết cơ bản về Luật, về các pháp yết-ma truyền giới. Thiết nghĩ, chư Ni cũng nên cử những vị tôn đức Ni rành về giới luật để làm giám đàn, phụ tá cho vị Luật sư ở đàn giới của Ni, để việc truyền giới cho Tỳ-kheo-ni được như pháp như luật.

  1. Kết luận

Với những gì đã bàn luận ở trên, người viết rút ra một số kết luận như sau:

Thứ nhất, Phật giáo có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, người nữ xuất gia cũng khá sớm ngay từ những năm giữa thế kỷ thứ I, nhưng dường như lịch sử truyền thừa Tỳ-kheo-ni lại chưa tìm thấy cho đến thế kỷ cuối XVII. Đến giữa thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, Phật giáo mới có đàn truyền giới cho Tỳ-kheo-ni nhưng việc thực hiện đàn truyền giới có đúng như pháp như luật hay không và Tỳ-kheo-ni nào thọ giới đầu tiên vẫn còn mờ nhạt và chưa được thống nhất.

Thứ hai, giới thể Tỳ-kheo-ni chỉ thành tựu khi Bạch tứ Yết-ma ở phần Chánh pháp Yết-ma đã hoàn tất, chứ không phải giới thể Tỳ-kheo-ni thành tựu ở Bạch tứ Yết-ma giữa phần Bản bộ Yết-ma. Nếu giới thể chưa thành tựu thì không có việc giới tướng được truyền trao, tức là chưa chính thức trở thành Tỷ-kheo-ni thì không được đắp y Tỳ-kheo-ni. Còn nếu như đã đắp y Tỳ-kheo-ni trên người rồi thì lúc sang giữa Tăng Tỷ-kheo không thể xưng “con là Thức-xoa-ma-na….”

Thứ ba, khi nữ giới được phép xuất gia, đắc giới Cụ túc như Pháp phải dựa trên nền tảng Bát kỉnh pháp và không thể tách rời, kể từ đó Tỳ-kheo-ni chính thức trở thành thành viên của Tăng đoàn. Nếu Tỳ-kheo-ni mà không vâng giữ hay bác bỏ Bát Kỉnh pháp thì cần phải xem lại tư cách của mình bằng không cũng đã tự mình tách ra khỏi Tăng đoàn Phật giáo.

Thứ tư, việc lựa chọn giới sư là rất quan trọng, giới sư phải thanh tịnh, phải am hiểu về giới luật, về các pháp yết-ma truyền giới… Thiết nghĩ, để việc truyền giới cho Tỳ-kheo-ni được như pháp như luật, chư Ni cũng nên cử những vị tôn đức Ni am hiểu về giới luật để phụ tá cho vị Luật sư ở đàn giới của Ni.

Như vậy, có thể thấy, từ những kết luận nêu trên và thực tế còn tồn tại những điều bất nhất như đã nêu, thiết nghĩ, đã đến lúc Hội đồng Giám luật và các vị có thẩm quyền về Luật tạng hãy cùng nhau ngồi lại và thống nhất về một nghi thức truyền giới để cho pháp Phật được truyền thừa một cách có hệ thống và chuẩn xác hơn, nhất là giới tử Tỳ-kheo-ni được thọ giới như pháp thì mới có thể thành tựu giới thể thanh tịnh. Cũng có lúc, chúng ta có thể “phương tiện tùy nghi”, nhưng nếu không có lý do chính đáng thì không thể giản lược một cách tùy tiện.

Sư cô Thích nữ Minh Hoa